cailuongvietnam.info

https://www.cailuongvietnam.info/home


Những vở kịch vẹn nguyên giá trị: "Nỏ thần": Ai có tội?

Âu Lạc đã mất đi sức mạnh do chính mình tạo ra, mất đi sự sáng suốt để nhận biết đâu là đúng - sai, đâu là bạn - thù của những người có quyền lực, nhất là người đứng ở ngôi cao, đang nắm trong tay vận mệnh đất nước
Những vở kịch vẹn nguyên giá trị: "Nỏ thần": Ai có tội?

Truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy và Cổ Loa thành được người dân Việt truyền tụng bao đời nay mang đầy đủ các yếu tố để cấu thành một khúc bi tráng ca, với bi kịch tình yêu sinh ra từ tham vọng bá quyền, với lòng oán hận, tình yêu nước, sự bội phản, bài học vệ quốc… đã được tác giả Lê Duy Hạnh xây dựng thành một vở kịch xứng tầm: "Nỏ thần".

Bài học muôn đời

Vở kịch "Nỏ thần" sử dụng lại mọi chất liệu có sẵn trong truyền thuyết dân gian nhưng được tác giả Lê Duy Hạnh sáng tạo thêm những nhân vật mới, tuy là những nhân vật phụ nhưng giúp tác giả tô đậm thêm tính chất bi kịch của lịch sử, đó là một Nhan Tấn - đại thần của Triệu Đà, vừa mất con trong cuộc chiến với Âu Lạc, thù nước, thù nhà cộng dồn vào một con người nên ý chí phục thù của y rất cao, từ đầu đến cuối, lúc nào y cũng quyết tâm bày mọi mưu kế để lấy được bí mật nỏ thần, chia rẽ hàng ngũ quân tướng nhà Âu Lạc. Nhan Tấn là một nhân vật thành công của Lê Duy Hạnh, y quy tụ trong mình tất cả những đặc tính của một kẻ thù nguy hiểm, nhẫn nại nằm gai nếm mật như Câu Tiễn, tất cả mưu ma chước quỷ của y đều được tiến hành từng bước một, từng giềng mối kết cấu nên một Âu Lạc vững mạnh bị y tháo ra, để cuối cùng nó chỉ còn là một "vỏ ốc" trống rỗng, bị kẻ thù phá hủy từ bên trong. Nhan Tấn tiến hành những việc ấy thật dễ dàng, quân dân Âu Lạc đang say men chiến thắng, An Dương Vương ngủ vùi trong giấc mộng thái bình, quân tướng bắt đầu lơ là cảnh giác, chỉ biết đến tửu sắc, tất cả không hay biết rằng cơn bão đang dần dần tụ lại trong khoảng trời yên bình… Một triều đình như thế thì sự suy tàn là tất yếu.

Những vở kịch vẹn nguyên giá trị: Nỏ thần: Ai có tội? - Ảnh 1.

Cảnh trong vở “Nỏ thần” trên Sân khấu Kịch Phú Nhuận Ảnh: Tư liệu

Trong "Nỏ thần", sức mạnh thần quyền tạo nên chiếc nỏ bắn một phát giết hàng ngàn tên địch đã được lý giải bằng sức mạnh đoàn kết của toàn dân. Chính sức mạnh đoàn kết của toàn dân mới làm nên chiến thắng. Chỉ khi những người lãnh đạo đất nước tập hợp được lòng dân cho một mục đích cao cả thì sẽ có được sức mạnh vô địch trong tay.

Kẻ thù trong chính chúng ta

Nếu ta lên án dã tâm của Triệu Đà, sự gian trá của Nhan Tấn một thì ta phải phê phán sự cả tin của An Dương Vương đến mười. Thân là vua một nước, vậy mà ông xuề xòa dễ dãi, để kẻ thù vào tận triều đình, vẫn dang tay ôm lấy như một người bạn thân lâu năm mà không nhớ rằng máu của con dân Âu Lạc đổ xuống đất còn chưa kịp khô. Ông cai trị trong cơn mơ giữa những triều thần cũng đương say ngủ trong chiến thắng, chỉ có duy nhất tướng quân Cao Lỗ là tỉnh, ông vẫn đốc thúc binh lính luyện tập, vẫn cảnh giác thường xuyên với bè lũ Nhan Tấn. Nhưng sự tỉnh của Cao Lỗ lại thành lạc thời giữa những người ngây thơ mộng tưởng thái bình, ông bị An Dương Vương hắt hủi, các tướng xa lánh, ông đánh mất Mỵ Châu trong trắng. Tất cả đều thơ ngây tin rằng kẻ địch trong một sớm một chiều có thể thay đổi, để ngây thơ rước sói vào nhà. Cao Lỗ là khuôn mặt của một trung thần, không phải hạng ngu trung nhất nhất nghe theo lời quân vương, hết lòng can ngăn khi thấy An Dương Vương lầm lạc và cuối cùng vị tướng đại diện cho sức mạnh của nhân dân này đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Câu chuyện tình yêu của đôi trẻ trở thành nạn nhân của những âm mưu thâm độc trong "Nỏ thần". Và "kẻ thù" được xác định không phải là cô con gái đáng thương Mỵ Châu ngồi sau lưng Thục Phán trên ngựa lúc tháo chạy mà chính là sự ngây thơ, mất cảnh giác của một đất nước. Âu Lạc đã mất đi sức mạnh do chính mình tạo ra, mất đi sự sáng suốt để nhận biết đâu là đúng - sai, đâu là bạn - thù của những người có quyền lực, nhất là người đứng ở ngôi cao, đang nắm trong tay vận mệnh đất nước.

Nhan Tấn đã phát ngôn một câu tựa chân lý: "Từng con người trong chiến chinh buộc phải vào khuôn khổ thì khi thanh bình lại tự buông lỏng kỷ cương. Chiến trường ai cũng nghĩ phải có giáo, có gươm, ít ai ngờ chiến trường nằm trong vàng bạc, ngọc ngà, rượu ngon, gái đẹp...". Cổ Loa thành đã sụp đổ trên chính sự bình yên của nó. Kẻ thù không phải lúc nào cũng lộ mặt. 

Tầm thời đại trong câu chuyện cũ

Vở kịch "Nỏ thần" của Lê Duy Hạnh được Sân khấu Kịch Phú Nhuận dàn dựng tham gia Liên hoan Sân khấu toàn quốc 2009 đã giúp đơn vị này đem về chiếc huy chương vàng. Nhan Tấn (do NSƯT Bảo Quốc đóng) và dũng tướng của Âu Lạc - Cao Lỗ (Huỳnh Đông đóng) là đại diện cho 2 tuyến nhân vật được Đỗ Đức Thịnh tập trung khai thác sâu để thể hiện rõ nhất chủ đề vở.

Hình tượng nhân vật Cao Lỗ luôn được đẩy lên đến đỉnh cao của vẻ đẹp bất tử: Trung - dũng - trí - nhân. Dù là dũng tướng, đứng dưới một người và trên muôn người nhưng Cao Lỗ không thể một mình chống lại hàng ngàn, hàng vạn mũi giáo vô hình của kẻ thù đang từng ngày giết chết ý chí, sức mạnh của dân tộc mình. Trong giây phút hy sinh, người dũng tướng này vẫn đứng vững bên chiếc trống đồng - báu vật của non sông Âu Lạc - gióng lên những thanh âm vang rền, như lời của núi sông. Gương mặt cương nghị, biểu lộ cảm xúc xuất thần ở mỗi cảnh diễn của Huỳnh Đông đã ghi dấu ấn đặc biệt cho vai diễn, cũng đã làm nên linh hồn cho nhân vật, bật lên được tư tưởng của vở diễn.

Năm 2008, soạn giả Hoàng Song Việt chuyển thể thành vở cải lương hoành tráng với tên gọi "Chiếc áo thiên nga", đạo diễn Hoa Hạ dàn dựng, quy tụ các nghệ sĩ nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực, kết hợp cải lương với opera và nhạc nhẹ. Mười năm sau, năm 2018, vở cải lương được dàn dựng lại nhưng với quy mô nhỏ hơn.

Huỳnh Trọng Khang
 

Những vở kịch vẹn nguyên giá trị (*): Bi kịch sống không là mình

Hạnh phúc là khi con người được sống thật với chính mình, không bị ép buộc phải sống theo ý chí của người khác. Đó là điều cốt lõi mà vở kịch "Hồn Trương Ba da hàng thịt" muốn nói

"Hồn Trương Ba da hàng thịt" là tích truyện dân gian vốn lưu truyền hàng ngàn năm nay, kể về Trương Ba, một kỳ thủ đến thần tiên cũng phải chào thua, do sơ suất của các vị thần tiên trên trời mà phải chịu chết dù chưa đến hạn. Để cứu vãn sai lầm, họ đã quyết định cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt mới qua đời, từ đó hồn Trương Ba sống trong xác anh hàng thịt đã gây ra biết bao cảnh trớ trêu, bi hài. Năm 1981, Lưu Quang Vũ bắt tay vào viết vở kịch "Hồn Trương Ba da hàng thịt".

Nỗi đau nhân thế: Sống phận tha nhân

Bi kịch của Trương Ba là bi kịch của kẻ bị chết oan nhưng cuối cùng lại phải chịu sự trừng phạt là bị giam cầm trong thân xác của một kẻ cục mịch. Một người lành lặn về tâm hồn chợt phải chấp nhận một thể xác chắp vá.

Đánh mất nhân dạng, đồng thời Trương Ba phải đối diện với sự tha hóa của bản thân, khi dần dần quen ăn những món trước đây ông cho là phàm tục hay đánh con tóe máu… Đỉnh điểm của kịch chính là cuộc đối thoại giữa hồn của Trương Ba và xác anh hàng thịt, sự đuối lý giữa hồn trước xác, chính là sự thất bại của linh hồn trước sự cám dỗ của thể xác, bao nhiêu con người trên thế gian đã đánh mất lương tri của mình để chiều lòng phần thân xác ấy?

Những vở kịch vẹn nguyên giá trị (*): Bi kịch sống không là mình - Ảnh 1.

Cảnh trong vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Nhà hát Kịch Việt Nam. Ảnh: TƯ LIỆU

Người ta thường chỉ chú ý nạn nhân Trương Ba mà hay bỏ qua nạn nhân khác là anh hàng thịt, phải để người khác trú ngụ trong thân xác của mình, xác của anh lại bị người khác sử dụng để tiếp tục duy trì một linh hồn lang thang không nơi trú ngụ. Hai nạn nhân, một người bị cầm tù linh hồn, còn người kia đánh mất quyền thân xác của mình, họ chính là đại diện cho lớp người không có quyền sống lẫn quyền chết, họ không có một thứ quyền nào, không làm chủ được bất cứ thứ gì bởi tất cả đã được áp đặt bởi "thiên mệnh", được định đoạt bởi một nhóm người đầy quan liêu và thiếu trách nhiệm.

Sự tự nguyện chọn lấy cái chết, trả thân xác về lại cho anh hàng thịt của Trương Ba chính là tự nguyện chấm dứt cái tình thế lưỡng nan của kiếp người, tự nguyện chấm dứt những mâu thuẫn phát sinh từ đối nghịch giữa tâm hồn và thể xác, không thể sống bằng cái nguyên lý máy móc một nửa cộng một nửa thì sẽ bằng một. Nhưng đó là một tập hợp quái đản.

Tiếng cười đánh vào thế lực thần quyền

Lưu Quang Vũ được mệnh danh là Molière của Việt Nam khi ông đã bằng tiếng cười đánh thẳng vào thế lực thần quyền, đại diện ở đây là những vị thần tiên như Nam Tào hay Bắc Đẩu, sống ở cõi trên ngó xuống, xem chúng sinh như những con cờ, những con cờ trên một ván cờ mà nếu đi sai một nước thì có thể hủy cả bàn cờ để đi lại.

Sự trớ trêu ở chỗ chính Trương Ba lại là một kỳ thủ tài ba, ông có khả năng làm chủ những quân cờ, trong khi ông chỉ là một con cờ trên bàn cờ cuộc đời, một con cờ của các thế lực thần quyền "ở trên", vì ở trên nên họ đưa ra những quyết định "trên trời". Nam Tào, Bắc Đẩu là 2 vị thần kề cận Ngọc Hoàng nắm giữ chuyện sinh tử của thế gian nhưng họ lại thực hiện chức phận của mình một cách bừa bãi. Xem thường cuộc sống người kẻ dưới. Ấy thế, khi biết mình mắc sai lầm thì sửa sai bằng cách để hồn Trương Ba cho nhập vào xác anh hàng thịt rồi cứ thế nghĩ rằng con người chỉ cần sống là được. Nhưng đâu phải con người chỉ cần sống thôi là đủ, thân xác đâu phải chỉ như một cơ quan trú ngụ mà muốn "gán ghép" linh hồn vào đâu cũng được. Mục đích của 2 vị thần ấy đâu phải để sửa sai, họ chỉ muốn lấp liếm cho qua chuyện. Họ cũng không hiểu thế nào là tự nhiên, là hạnh phúc. Một cách duy ý chí, họ áp đặt quyền lực của mình lên tự nhiên và cho rằng có thể cải tạo tự nhiên mà không biết rằng hạnh phúc là khi con người sống thật với chính bản thân mình.

Chính ở đây, "Hồn Trương Ba da hàng thịt" còn là lời cảnh tỉnh với những ai sống giả dối, không thật với chính mình, cố khoác những lớp vỏ ngụy trang trước người khác hoặc sống vì ý muốn của kẻ khác. Dần dần họ tha hóa tâm hồn của mình, không còn là mình nữa.

Kết thúc vở kịch, người đáng sống đã chết và người phải chết vẫn sống, công bằng đã không xuất hiện, không có một cái kết đủ sức thỏa mãn khán giả để lấy lại niềm tin vào công lý. Còn Nam Tào và Bắc Đẩu vẫn nắm trong tay quyển sổ sinh tử, vẫn ở trên trời, vẫn có mọi quyền hành, cứ tồn tại. Chỉ có những phàm nhân như Trương Ba và anh hàng thịt là trong vòng sinh tử, chịu sự phán xét. 

"Tiền hung hậu kiết"

Theo PGS-TS Nguyễn Thị Minh Thái, trong số kịch bản đã được dựng trên sân khấu cả nước của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948-1988), "Hồn Trương Ba da hàng thịt" của ông đã gánh chịu số phận thật long đong, vất vả ngay từ khi ra đời. Viết xong năm 1981, kịch bản này bị cho là có vấn đề về phản ánh hiện thực, bị nằm im trong ngăn kéo của Lưu Quang Vũ 5 năm.

Sau nhiều nỗ lực cùng với đạo diễn - NSND Nguyễn Đình Nghi, từ kịch bản này, năm 1986, Nhà hát Kịch Việt Nam đã cho ra đời vở diễn chói sáng và lộng lẫy nhất của mình vào thập niên cuối của thế kỷ XX.

Theo đúng tiêu chí mỹ học về nghề đạo diễn của Nguyễn Đình Nghi, ngay lần chạm mặt đầu tiên, ông đã tìm ra cách rất riêng để giải thích tính đa nghĩa của kịch bản văn học này. Nguyễn Đình Nghi đã tỉnh táo lướt qua cái bề ngoài có vẻ "cạnh khóe" của ngôn ngữ vở kịch về lề lối làm việc tắc trách, đầy thói dửng dưng vô trách nhiệm của tệ quan liêu để bóc lấy cái hạt nhân cơ bản bên trong, chính là nỗi đau nhân thế, nằm chìm dưới đáy sâu của kịch bản.

Khởi đi từ đó, cuộc hạnh ngộ đẹp đẽ nhất giữa ngôn ngữ văn học vốn "phi vật thể" của Lưu Quang Vũ với ngôn ngữ dàn dựng sân khấu được "vật thể hóa" thành vở diễn của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã được bắt đầu như thể một cơ duyên.

Vở diễn không chỉ gây tiếng vang trong nước mà còn trên trường quốc tế: đoạt Huy chương vàng Hội diễn Sân khấu toàn quốc năm 1990; Huy chương vàng Hội diễn Kịch quốc tế Moscow 1990; trình diễn tại hơn 20 trường đại học ở Mỹ vào năm 1998 trong chương trình giao lưu sân khấu Việt - Mỹ. Đến năm 2002, vở kịch được dịch sang tiếng Anh với tên gọi "The Butcher’s Skin" và dàn dựng trên sân khấu Yellow Earth ở Anh quốc.

Huỳnh Trọng Khang
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây